|
Mc 1, 40-45
Thiếu nhi chúng
con yêu quí,
Cha hỏi chúng
con: Chúng con đã thấy người mắc bệnh phong cùi bao giờ chưa?
- Thưa cha, con
đã thấy.
- Con thấy ở đâu?
- Con thấy trong
phim.
- Cám ơn con. Cha
cũng thấy…thấy trong phim và cha còn thấy cả những người mắc bệnh phong
trong trại người ta chăm sóc cho những người mắc bệnh phong nữa. Cha đã
thấy họ tại phong Di linh gần Đalạt.
1. Chúng con có biết bệnh phong cùi là bệnh như thế nào chúng con?
Đây là một bệnh
rất hay lây. Vì là một bệnh rất dễ lây cho nên trước đây người ta
rất sợ
những người mắc bệnh phong cùi.
Vì sợ như thế nên
người ta đã đặt ra rất nhiều cấm kỵ và rào cản để cách ly những mắc
chứng bệnh này.
Luật Cựu Ước ngày
xưa buộc người phong phải mặc áo rách, để tóc xoã, phải che râu và nếu ở
ngoài đường mà thấy hay gặp ai đó ở xa xa thì phải la to: "Ô uế ! ô uế
!" (Lv 13,45-46) để người ta biết mà tránh.
Luật pháp còn
liệt kể ra sáu mươi mốt
trường hợp bị coi là ô uế đối với những ai tiếp xúc với người phong, và
sự ô uế này chỉ đứng sau sự ô uế vì đụng vào xác chết. Luật còn qui
định: Nếu người phong thò đầu vào nhà nào thì nhà đó bị ô uế đến tận cây
kèo trên mái. Không ai được phép chào hỏi người phong ở ngoài đường và
không được đến gần người phong trong khoảng cách hai mét. Nếu người
phong đứng ở đầu gió người ở cuối gió phải giữ một khoảng cách bốn mươi
lăm mét. Ngay cả một quả trứng, các rabi Do Thái cũng không ăn nếu bán ở
chợ có người mắc bệnh phong đi qua.
Đến thời của Chúa
Giêsu thì người phong còn bị đối xử
khắc nghiệt hơn: Họ bị cấm không được ở trong thành
Giêrusalem và bất cứ thành phố nào có tường bao bọc.
Thật là những cấm
kỵ và những cách đối xử thật tàn nhẫn, tàn nhẫn đến mức độ nhiều khi
không còn một chút tình người nào nữa.
Chúng con hãy
nghe câu chuyện này:
Raoul Folereau, vị đại ân nhân của người phong cùi trên thế giới có kẻ
lại mẩu chuyện thương tâm như sau:
Trong một thị trấn nhỏ nọ, một người đàn ông lâm bệnh nặng. Sau khi khám
nghiệm, các bác sĩ
nghi ngờ
anh ta đã mắc bệnh phong hủi...Tuy
không là một phán quyết dứt khoát, nhưng kể từ đó người ta không còn
thấy anh ra khỏi nhà nữa. Gia đình anh mỗi lúc lại càng xác tín hơn về
bệnh tình của anh. Thế là để che dấu con người mà họ coi như là một sự
xấu hổ chung, những người thân của anh đã giam anh trong một cái mùng
lớn. Người đàn ông đáng thương chỉ còn sống vất vưởng nhờ lương thực
tiếp tế mỗi ngày. Vũ trụ của anh chỉ còn là khung mùng phủ kín bốn chân
giường. Ngậm đắng nuối cay từng giờ từng phút, người đàn ông chỉ còn mỗi
một hy vọng: đó là trốn thoát được cái nơi giam giữ anh ta này... Ngày
nọ, anh đã bỏ trốn nhưng không may, người ta chặn bắt lại được.
Lần này, người đàn ông khốn khổ dường như không còn một hy vọng nào nữa.
Anh chỉ còn muốn tìm sự giải thoát qua cái chết...
Lần thứ hai, anh trốn khỏi vũ trụ tối tăm đang giam hãm anh. Nhưng lang
thang mãi mà vẫn không tìm được sự tin tưởng và giúp đỡ nào của những
người khác và anh đã tìm đến cái chết như một lời biện hộ cuối cùng.
Người đàn ông đã mua thuốc ngủ và tự vận trước mặt mọi người. Cái chết
của anh đã gây chấn động trong dư luận. Người ta yêu cầu cho khám nghiệm
tử thi.
Kết quả đã làm cho mọi người sửng sốt:
anh đã không bao giờ mắc bệnh phong
cùi...
2. Còn Chúa Giêsu thì sao?
Thái độ của Chúa Giêsu hoàn toàn khác với mọi thái độ của những người
đương thời.
Chúa Giêsu đã vượt qua
mọi cấm kỵ của Luật Pháp để đến gần người bệnh phong. Chúa còn vượt qua
cả nỗi sợ hãi và ghê tởm như nhiều người thường có khi phải tiếp xúc với
người bị bệnh phong cùi. Không những Chúa đến gần mà còn đưa tay chạm
vào thân mình của bệnh nhân.
Tãi sao Chúa làm như thế
thì câu trả lời rất rõ là bởi vì
Chúa thương.
Lòng thương yêu đã khiến Đức Giêsu dám làm tất cả. Đây là thái độ thường
có của Chúa Giêsu đối với những người bị xã hội loại trừ. Tất cả chỉ vì
tình yêu thương.
Hơn nữa, với sự hiểu
biết của một Thiên Chúa làm người, Chúa biết thật rõ vi trùng gây ra
bệnh phong cùi chẳng phải là loại vi trùng ghê gớm làm cho những người
chẳng may bị lây nhiễm có thể chết mà không ai có thể cứu được.
Vâng quả đúng như thế! Từ khi ông Hansen tìm ra vi trùng bệnh phong năm
1871,
người phong đã có được niềm hy vọng được chữa lành. Ngày nay những mới
mắc bệnh nếu được khám phá sớm họ có thể được chữa khỏi hoàn toàn. Đã có
thuốc đặc trị và họ sẽ hoàn toàn có thể được chữa khỏi.
Bệnh phong ngày nay
không còn lả bệnh bị liệt váo loại “tứ chứng nan y” nữa. Số ngừơi mắc
bệnh phong hiện nay rất ít, nhưng con số bị tàn tật vì mắc bệnh cách đây
vài chục năm lúc chưa có thuốc chữa thì có nhiều. Và họ là những người
rất cần đựơc giúp đỡ vì họ rất khó khăn trong cuộc sống và sinh kế.
Theo Bác sĩ
Bác sĩ Nguyễn Ý Đức: Nhìn
chung cả thế giới, số ngừơi bệnh phong đã giảm đi rất nhiều, trước đây
có khi lên đến mười mấy triệu nhưng đến cuối năm 2004 thống kê cho thấy
toàn cầu chỉ còn gần 300 ngàn người mắc bệnh phong mà thôi.
Riêng ở Viết nam tỷ lệ
bệnh phong hiện nay cũng đã giảm xuống rất nhiều, đã đạt được tiêu chuẩn
dưới 1/10 ngàn bệnh nhân do Tổ chức y tế thế giới đặt ra.
Chúng con hãy tập cho
mình thói quen
biết quan tâm và
thương yêu những người bị bỏ rơi, bị loại trử như Chúa
Giêsu đã làm.
Chúng con đừng tưởng
mình phải có thật nhiều tiền mới có thể làm được việc này.
Đây cha kể cho chúng con
câu chuyện có thật này:
Tại một
trung tâm bài phong nọ, đa số các bệnh nhân đều buồn chán vì cảm thấy bị
bỏ rơi và bị mọi người xa lánh. Chỉ có một người đàn ông cũng bị bệnh
vẫn còn biết cười và vẫn tiếp tục tạ ơn khi được giúp đỡ.
Nữ tu
coi sóc trung tâm đã tìm hiểu xem đâu là nguyên nhân của phép lạ này.
Sau nhiều ngày theo dõi, nữ tu ấy khám phá ra rằng ngày ngày có một
người đàn bà đến vách tường của trung tâm nhìn qua một lỗ nhỏ và nỡ một
nụ cười rất trìu mến với ông ta.
Đó là
tất cả sức mạnh và niềm hy vọng của người đàn ông xấu số. Mỗi ngày ông
chờ đợi nụ cười ấy. Khuôn mặt của người đàn bà chỉ chợt xuất hiện, mỉm
cười rồi biến mất. Vậy mà nó đã đem lại niềm vui thật lớn lao cho một
con người đang bị căn bệnh khốn khổ đang gặm nhắm cuộc đời mình.
Người
đàn ông giải thích cho chị nữ tu như sau:
- Người
đàn bà ấy chính là vợ tôi. Trước khi tôi đến đây, nàng đã tìm đủ mọi
cách để chạy chữa cho tôi. Mỗi ngày nàng ân cần chăm sóc tôi và luôn tỏ
ra vui tươi trìu mến. Nhưng nàng đã không thể giữ tôi ở nhà lâu hơn
được. Người ta đã đến đưa tôi vào đây. Nhưng vợ tôi vẫn không bỏ tôi.
Mỗi ngày nàng đến nhìn qua lỗ hổng ở vách tường và mỉm cười với tôi. Nhờ
nàng tôi biết rằng tôi còn sống. Và nhờ nàng tôi vẫn còn muốn sống.
Lạy
Chúa là Thiên Chúa của con,
có những ngày đón nhận những người khác
là điều vượt quá sức con,
vì con kiêu hãnh, tự hào và yếu đuối.
Lạy
Chúa là Thiên Chúa của con,
có những ngày con không thể nào kính trọng kẻ khác được,
vì ý kiến, vì màu da, vì cái nhìn của người ấy.
Lạy
Chúa là Thiên Chúa của con trong những ngày khó khăn đó,
xin hãy nhắc cho con nhớ rằng
tất cả chúng con đều là con cái Chúa và đừng để con quên Lời Chúa nói:
"Ðiều gì chúng con làm cho người bé nhỏ nhất là làm cho chính Ta."
|